Khi tiến hành các nghi lễ tâm linh, tôi luôn coi việc chọn ngày giờ là bước cần thiết nhưng không làm quá cầu kỳ. Trước hết, tôi xem mục đích của lễ là gì, bởi mỗi lễ như Lễ Tạ Đất, Lễ Gia Tiên, Lễ Động Thổ, Lễ Nhập Trạch hay Lễ Tạ Mộ đều có cách chọn ngày khác nhau xét theo Thập Nhị Kiến Trừ (Trực) hay Thập Nhị Bát Tú. Sau đó, xét đến tuổi của gia chủ hoặc người đứng lễ, tránh ngày giờ xung khắc như Sát Chủ, Thụ Tử, Thần Cách, Sát Sư...Cũng nên cân nhắc tránh những ngày dân gian kiêng kỵ như Tam Nương, Nguyệt Kỵ ...để buổi lễ được yên ổn. Khi đã có ngày phù hợp, tôi chọn giờ thuận, không phạm, để gia chủ làm lễ trong tâm thế bình an, không vội vàng. Với tôi, ngày giờ chỉ là trợ duyên, điều cốt lõi vẫn là lòng thành và sự trang nghiêm khi hành lễ.

Tiến tôi tu tập theo trường phái Tịnh Độ Tông và có chút tìm hiểu học hỏi của trường phái Kim Cang Thừa. Trong việc hành lễ, tôi tuân y khoa giáo theo 2 bộ sách cúng truyền thống từ xưa là bộ Thủy Lục chư khoa và bộ Tạp Tiếu chư khoa. Lối hành khoa ca tán theo lối canh cổ Hà Nội.

Nguyên văn là câu :"Mất tiền mua mã, mới được nghe thầy cả đọc canh". Trong trường phái Tịnh Độ Tông ở miền Bắc nước ta, tán canh là một trong số các "phương tiện" để hành khoa cúng theo lối cúng cổ truyền. Tán canh có nhiều giọng, nhiều lối, có tính chất địa phương vùng miền. Từ ngoài nhìn vào, khác với một "ông thầy cúng" cầm quyển sách chữ quốc ngữ hoặc song ngữ đi tụng mõ đều đều lấy lộc tứ phương, một người thầy pháp có sự chân tập, tu học lề lối bài bản sẽ được thể hiện qua tiếng trống giòn giã, nhịp tiu cảnh rộn ràng, câu canh tán ngân nga. "Phật ái tán, Thánh ái ca". Buồn thay, thế thời, kể cả nhiều sư thầy, đồng thầy, thầy pháp cũng chưa hiểu được cái hay, cái đẹp của tán canh trong khoa cúng mà vô tình cũng như hữu ý coi nhẹ, để dần mất đi nét đẹp truyền thống quý báu này của các trưởng sư tiền bối. "Lễ không tán canh thì đắng như nhai chanh cả vỏ!

Khi gia trung của quý vị phát sinh một số việc quan trọng như Động Thổ, Cất Nóc, Khai Trương Cửa Hàng, Di Chuyển Văn Phòng, Việc Hiếu Lễ 35 ngày, 49 ngày... thì nên mời pháp sư, thầy thống, thầy cúng- những người có chân tập, được học hành bài bản, được cấp sắc theo tông phái tu tập và có chuyên môn trong lĩnh vực này. Quý vị phải phân biệt rõ ràng chức năng và phận sự của mỗi người thầy trong mỗi lĩnh vực. Thầy chùa thụ chay niệm Phật, nguyện đi theo con đường giải thoát, là 1 trong 3 ngôi Tam Bảo. Phận sự của các thầy với chúng sinh là truyền dẫn giáo lý của Đức Phật, đại diện Tam Bảo để tịnh uế đàn tràng, trợ duyên tiếp độ vong linh siêu sinh tịnh độ... không phải lễ Mở Phủ Trình Đồng, lễ Bốc Bát Hương hay xem ngày tháng giờ tốt xấu... Thầy địa lý phong thủy những người nghiên cứu và ứng dụng phong thủy học (gắn với Âm dương – Ngũ hành – Hình thế – Lý khí) nhằm giúp con người hài hòa với môi trường, từ đó hỗ trợ tài lộc, sức khỏe, gia đạo và công danh. Chuyên ngành của các thầy là xem hướng, tọa, kiến trúc, ngày giờ tốt xấu chứ không phải cúng lễ Tân Gia Nhập Trạch, lễ Động Thổ, lễ Thần Tài Khai Trương, Bốc Bát Hương... Chí ít, nguyên do hoàn cảnh bất tiện mà tự bản thân đứng ra lễ đảo kêu cầu, cũng nên dâng hoa, hương, vàng tiền, sớ trạng chữ Nho để tự lễ.

Gồm hai thể loại chữ, chữ Hán và chữ Nôm. Chữ Hán được dùng gần giống chữ Hán phồn thể của Đài Loan và Hồng Kông hiện tại. Trong một ngàn năm Bắc thuộc, hệ thống chữ viết dân tộc ta bị ảnh hưởng toàn bộ từ người phương Bắc, đặc biệt dưới thời kỳ nhà Minh. Chữ Nôm (là đọc chệch đi của chữ "Nam", ý chỉ dân tộc ta, những người phía Nam Trung Quốc) bắt đầu xuất hiện khi việc đồng hóa chữ viết gặp khó khăn. Việc viết những tên người, tên địa danh, danh từ mà theo chữ Hán khó có thể diễn đạt được hết âm của người Việt. Chữ Nôm được cấu tạo dựa trên chữ Hán nhưng với nguyên tắc viết bằng cách ghép hai chữ Hán tượng hình lại hoặc một chữ Hán tượng hình với một chữ Hán tượng thanh để biểu đạt ý nghĩa. Vậy nên để đọc được chữ Nôm phải có vốn chữ Hán phong phú.

Hai thể loại chữ này được các bậc Nho sĩ dùng xen kẽ và linh hoạt trong việc ghi chép sử sách, truyền giáo lý cũng như sáng tác thơ văn. Vì vậy nên gọi là chữ Nho. Thể loại chữ này được sử dụng đến cuối thời kỳ nhà Nguyễn, khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xuất hiện và dần dần bị thay thế bởi hệ thống chữ La-Tinh chúng ta đang sử dụng ngày nay.

Việc sử dụng sớ quốc ngữ trong thời đại ngày nay không gì ngoài mục đích "phổ cập đại trà" tôn giáo tín ngưỡng đến đại chúng. Nhưng đi kèm hệ lụy là người viết lẫn người đọc không hiểu nội dung lá sớ viết điều gì. Vì việc dịch lá sớ ra chữ quốc ngữ chỉ giúp chuyển tải âm tiết mà không biểu đạt ý nghĩa qua con chữ, làm việc dâng lá sớ trở nên trống rỗng, sáo ngữ. Đọc mà không hiểu, viết mà không thông, làm việc dâng sớ bớt đi tính trang trọng, giảm sự linh ứng của đàn lễ.

Có câu "Giàu làm kép, hẹp làm đơn". Việc sắm lễ bao nhiêu, như thế nào tùy vào điều kiện và quy mô buổi lễ. Đã là Thần Phật Tiên Thánh, các Ngài chẳng chấp lễ lớn nhỏ. Nếu lễ chủ gia trung bất hạnh, hoàn cảnh khó khăn nhưng nhất tâm kính cẩn hành lễ thì 1 nén hương thơm, 1 quả cau, gói bánh cũng đủ thấu đến cửu trùng. Bù lại dù cỗ bàn la liệt, đồ mã tràn lan nhưng tâm chẳng 1 lòng, ngồi lễ nhấp nhổm, tâm hướng tứ phương thì e rằng hiệu quả của buổi lễ cũng chẳng là bao.

Gửi câu hỏi cho chúng tôi

;